CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SUY THẬN CẤP
Suy thận cấp là một tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, đặc trưng bởi sự suy giảm đột ngột và nhanh chóng chức năng lọc của thận trong thời gian ngắn. Bệnh có thể khởi phát do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ các yếu tố ngoài thận như giảm thể tích tuần hoàn, nhiễm trùng, cho đến các tổn thương trực tiếp tại thận. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, suy thận cấp có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong. Tuy nhiên, đây là bệnh lý có khả năng hồi phục chức năng thận nếu được chăm sóc đúng cách. Trong đó, việc chăm sóc toàn diện cho người bệnh, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng hợp lý, đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hỗ trợ điều trị mà còn giúp phục hồi chức năng thận nhanh chóng và hiệu quả hơn.
.jpg)
I. Sinh lý bệnh:
Suy thận cấp là hội chứng làm giảm đột ngột và nhanh chóng chức năng lọc của thận, gây ra bởi nhiều nguyên nhân, có thể ngoài thận hoặc tại thận. Suy thận cấp có tỷ lệ tử vong cao, nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, chức năng thận có thể hồi phục hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn.
II. Các giai đoạn tổn thương thận và triệu chứng:
- Giai đoạn 1 (khởi đầu): trong vòng vài giờ hoặc vài ngày, lưu lượng máu đến thận giảm gây ra tình trạng thiếu máu thận nên quá trình chết tế bào diễn ra, gây tăng BUN, creatinine, trong khi đó số lượng nước tiểu giảm dần. Người bệnh có tình trạng thiểu niệu (100 – 400 ml/24 giờ), hay vô niệu (dưới 100ml/24 giờ).
- Giai đoạn 2 (tổn thương lan tỏa): tình trạng tổn thương lan rộng. Người bệnh thiếu máu nặng thêm, ống thận bị tắc nghẽn bởi các tế bào ống thận hoại tử bong tróc ra làm tăng áp lực trong ống thận gây rò rỉ dịch lọc, người bệnh có tình trạng phù nề mô kẽ. Độ lọc cầu thận (GFR) giảm thêm, BUN và creatinine máu tiếp tục tăng. Người bệnh có các dấu hiệu như thiểu hoặc vô niệu, phù, tăng ure máu có thể ảnh hưởng đến thần kinh làm người bệnh có thể mệt mỏi, khó tập trung, nặng hơn có thể dẫn đến hôn mê, creatinine tăng nhanh, rối loạn nước và điện giải, tăng kali máu, toan chuyển hóa.
- Giai đoạn 3 (giai đoạn lợi niệu): tăng dần lượng nước tiểu từ 1 – 3ml/24 giờ, có thể đạt 3 – 5L/24 giờ hoặc hơn. Mặc dù lượng nước tiểu tăng nhưng chức năng thận vẫn chưa hồi phục hoàn toàn. Lượng nước tiểu tăng là do lợi niệu thẩm thấu do nồng độ ure cao trong dịch lọc nhưng ống thận không có khả năng cô đặc nước tiểu. Người bệnh có thể bị thiếu dịch và hạ áp do đào thải một lượng lớn dịch ra ngoài, hạ natri máu, hạ kali máu. Gần cuối giai đoạn này BUN và creatinine bắt đầu trở lại bình thường.
- Giai đoạn 4 (giai đoạn hồi phục): Bắt đầu khi GFR tăng trở lại, BUN và creatinine đứng lại và bắt đầu giảm. Sự cải thiện đáng kể xảy ra trong 1 – 2 tuần đầu của giai đoạn này nhưng chức năng thận có thể cần đến 12 tháng để trở lại bình thường.
.jpg)
III. Nguyên tắc điều trị:
- Tuân thủ chế độ điều trị: Uống thuốc đúng chỉ định, không tự ý sử dụng thuốc ngoài đơn đã được bác sĩ kê hoặc tham khảo các loại thuốc không rõ nguồn gốc.
- Trong trường hợp bệnh nhân phải lọc máu ngoài thận, người bệnh và người nhà cần tuân thủ chỉ định của bác sĩ, hướng dẫn của nhân viên y tế, hạn chế tối đa tác nhân gây nhiễm trùng catheter.
- Theo dõi định kì, tái khám đúng hẹn hàng tháng cho đến khi chức năng thận hồi phục hoàn toàn, tiếp tục điều trị dứt nguyên nhân gây suy thận.
.jpg)
IV. Chế độ dinh dưỡng phù hợp cho người bệnh:
- Theo dõi cân nặng hằng ngày với cùng một cân đo tại một thời điểm cố định trong ngày để đánh giá, phát hiện sớm tình trạng tăng hay giảm lượng nước trong cơ thể (1kg cân nặng tương đương 1.00ml dịch).
- Đánh giá chế độ ăn của người bệnh về tổng năng lượng, loại thức ăn ưa thích nhằm cung cấp đủ nhu cầu năng lượng và kích thích người bệnh ăn.
- Tìm hiểu các yếu tố góp phần vào việc thay đổi chế độ ăn như: chán ăn, buồn nôn, viêm dạ dày nhằm lựa chọn phương pháp dinh dưỡng phù hợp nhất cho người bệnh.
- Cung cấp chế độ ăn phù hợp bệnh lý:
- Nhiều năng lượng 30 – 35 kcal/kg cân nặng/ngày.
- Cung cấp protein 0,8 – 1g/kg/ngày, tăng khi ure máu giảm tới mức an toàn, sử dụng các loại thức ăn có giá trị sinh học cao như thực phẩm chứa nhiều axit amin, dễ tiêu hóa như trứng, cá, sữa, đậu nành, ngũ cốc,…
- Cung cấp natri và kali tùy thuộc vào lượng natri và kali trong máu. Lượng natri cần hạn chế để phòng ngừa phù, cao huyết áp và suy tim. Kali có thể hạn chế đưa vào cơ thể bằng cách giảm các thực phẩm nhiều kali như: chuối, cam, cà phê, nước hoa quả, các loại rau củ xanh đậm. Hạn chế các thực phẩm mang hàm lượng phosphate cao như hải sản, thịt, phô mai,…
- Cung cấp lượng lipid ít nhất 30 – 40% tổng năng lượng.
- Tăng cường bổ sung vitamin
- Thực hiện chế độ ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày.
- Cung cấp danh sách các loại thức ăn được dùng và hạn chế dùng hỗ trợ người bệnh trong việc tuân thủ chế độ điều trị của bác sĩ.
.png)
Nhìn chung, một trong các yếu tố quan trọng khi chăm sóc người bệnh suy thận cấp là vai trò của chế độ ăn đúng trong điều trị suy thận, với lượng đạm và kali cần cung cấp phù hợp với chức năng thận. Ngoài ra, cần cân bằng chế độ làm việc và nghỉ ngơi thích hợp, tránh làm việc nặng, thực hiện việc tự chăm sóc trong mức cho phép, nghỉ ngơi nhiều
Tin tức khác
- Bệnh viện Quân y 7A tuyển dụng (23-09-2026)
- THÔNG BÁO NGHỈ LỄ QUỐC KHÁNH 2/9 NĂM 2026 (18-08-2026)
- CỨU SỐNG BỆNH NHÂN NHIỄM TOAN LACTIC NẶNG LIÊN QUAN METFORMIN (04-08-2026)
- Kết quả 6 tháng đầu năm 2026 của Bệnh viện Quân y 7A (07-07-2026)
- MẦM SỐNG NỞ HOA GIỮA MUÔN TRÙNG KHÓ KHĂN (03-07-2026)
- Bệnh viện Quân y 7A Thông báo tuyển dụng (26-05-2026)
- BỘ Y TẾ KHYẾN CÁO PHÒNG BỆNH DO VIRUS HANTA (18-05-2026)
- DANH SÁCH TRÍCH NGANG ĐỀ NGHỊ XÉT TẶNG DANH HIỆU “THẦY THUỐC ƯU TÚ” (06-05-2026)

Đang online: 10
Tổng truy cập: 2437739
